· Minh Chau · stories · 22 min read
Nikola Tesla - Những trải nghiệm khác thường
Các hiện tượng thị giác, trí tưởng tượng và cơ chế tư duy lạ của Tesla.

Chương 2: Những trải nghiệm khác thường
Tôi sẽ dừng lại một chút với những trải nghiệm khác thường này, vì có thể có ích đối với các nhà nghiên cứu tâm lý và sinh lý học. Hơn nữa, giai đoạn thống khổ đó cũng mang đến những kết quả to lớn nhất cho sự phát triển trí tuệ và sức lao động của tôi sau này. Trước tiên, để hiểu được bản chất, phải liên hệ các kết quả với những sự việc và điều kiện xảy ra trước đó để tìm một phần lời giải thích.
Từ nhỏ, tôi đã buộc phải tập trung sự chú ý vào bản thân mình. Điều này gây ra nhiều đau khổ, nhưng theo quan điểm hiện tại của tôi, thì tưởng rủi lại hóa ra may, vì điều đó đã dạy tôi biết phải xem trọng giá trị vô song của khả năng tự tư duy. Chính khả năng này sẽ giúp sống tốt và thành đạt. Dòng chảy các ấn tượng từ môi trường bên ngoài không ngừng rót vào tâm thức thông qua các cổng giác quan, khiến cuộc sống hiện đại quá nguy hiểm. Hầu hết mọi người quá say mê suy ngẫm về thế giới bên ngoài đến độ hoàn toàn không biết điều gì đang diễn ra bên trong bản thân mình. Cái chết sớm của hàng triệu người chủ yếu là bởi nguyên nhân này. Ngay cả trong số những người thường luyện tập tư duy, phân tích, quan sát, vẫn có người quên mất trí tưởng tượng của mình, để rồi bỏ qua cái nguy hiểm thực sự và gặp họa. Mà thường thì cái gì đúng với một cá nhân cũng sẽ ít nhiều đúng với cả một dân tộc.
Tôi không phải lúc nào cũng thích kiêng cữ, nhưng tôi thấy quá trình kiêng cữ được tưởng thưởng xứng đáng bằng cuộc sống dễ chịu hiện tại. Để làm rõ hơn ý mình, tôi sẽ hồi tưởng vài chuyện. Mới đây thôi, tôi đang về khách sạn. Đêm lạnh buốt, mặt đất trơn trượt, không có taxi. Theo sau tôi nửa dãy nhà là một người khác, rõ ràng cũng đang tìm nơi trú lạnh. Đột nhiên tôi trượt chân ngửa ra sau. Ngay lúc đó, óc tôi lóe sáng. Dây thần kinh phản ứng, các cơ co lại. Tôi xoay 180 độ, chống tay xuống, tránh khỏi đập đầu và tiếp tục đi như thể chưa có chuyện gì xảy ra. Người lạ kia bắt kịp. Anh hỏi, nhìn tôi dò xét:
– Ông bao nhiêu tuổi rồi?
– Ồ, khoảng 59. Có gì không?
– À, tôi đã thấy mèo lộn mèo chứ chưa bao giờ được thấy người lộn mèo cả.
Khoảng một tháng trước, tôi muốn đặt mua kính mới và đến một bác sĩ nhãn khoa. Ông kiểm tra tôi mấy cái thông thường. Ông nhìn tôi đầy nghi ngờ khi tôi đọc dễ dàng những chữ nhỏ nhất ở đằng xa. Nhưng khi tôi bảo ông ấy tôi đã quá 60 thì ông muốn hụt hơi vì kinh ngạc.
Bạn bè tôi thường nhận xét rằng bộ đồ tôi mặc vừa như may đo, mà không biết rằng tất cả quần áo của tôi được may theo số đo gần mười lăm năm trước và chưa bao giờ thay đổi. Cũng trong thời gian đó, trọng lượng của tôi không xê xích quá nửa ký. Nhân việc này, tôi xin kể một chuyện vui.
Vào một buổi tối mùa đông năm 1885, ông Edison, ông Edward H. Johnson (Chủ tịch Công ty Edison Illuminating), ông Charles W. Batchelor (Giám đốc), và tôi, bước vào một nơi nhỏ bé đối diện 65 Fifth Avenue. Đây là nơi đặt văn phòng Công ty Edison Illuminating. Có người đề nghị chơi trò đoán trọng lượng và tôi là kẻ đầu tiên được mời lên “bàn cân” của cả nhóm. Edison ước lượng khắp người tôi và nói: “Tesla nặng 69 kg, hơn kém khoảng 30g.” Ông đã đoán chính xác. “Trừ bì” thì tôi 65 kg, trước giờ vẫn vậy.
Tôi nói nhỏ với ông Johnson: “Sao Edison có thể đoán chính xác vậy?”
Johnson hạ thấp giọng: “À, tôi nói ông nghe bí mật này, đừng nói ai nhé. Hồi trước Edison có làm thuê trong một lò mổ Chicago một thời gian. Ngày nào hắn chả cân cả ngàn con heo thiến. Là vậy đó.”
Quý ngài Chauncey M. Dupew bạn tôi thường kể, có lần ông cho một người Anh nghe một trong những chuyện mình sáng tác. Người đó nghe với vẻ lúng túng, nhưng một năm sau thì cười thành tiếng. Thú thật là còn lâu hơn thế nữa tôi mới thấm và thích nổi câu chuyện đùa của Johnson.
Bây giờ, sự an lạc trong tôi đơn giản chỉ là kết quả của cách sống cẩn thận, chuẩn mực trước đây. Có lẽ điều đáng ngạc nhiên nhất là đã ba lần trong tuổi thanh xuân, bệnh tật đã làm tôi suy nhược cơ thể đến độ bác sĩ bó tay. Hơn thế nữa, do ngu dốt và nhẹ dạ, tôi đã vướng phải mọi thứ khó khăn, nguy hiểm lớn nhỏ. Chả hiểu nhờ phép lạ nào mà tôi đã tự giải thoát được. Tôi đã suýt bị chết đuối, bị chôn vùi, bị lạc và bị đông lạnh. Tôi đã thoát trong đường tơ kẽ tóc khỏi lũ chó điên, heo, và đủ loài thú hoang dã khác. Tôi đã trải qua những căn bệnh khủng khiếp và gặp mọi thứ rủi ro kỳ cục. Ngày hôm nay tôi vẫn toàn vẹn và vui vẻ, đúng là một phép lạ. Khi tôi nhớ lại những sự cố này, tôi cảm thấy đúng là sự tồn tại của tôi không hoàn toàn tình cờ, mà thật ra là tác phẩm của quyền lực thiêng liêng. Mọi nỗ lực của một nhà phát minh cơ bản đều nhằm bảo vệ sự sống. Dù anh ta khai thác các lực, cải tiến thiết bị, hay cung cấp tiện nghi mới, anh ta cũng đều đang giúp cuộc sống của loài người thêm an toàn. Một nhà phát minh đích thực cũng sẽ tự bảo vệ mình giỏi hơn các cá nhân bình thường nhờ óc quan sát và sự tháo vát. Do không có thang đo nào đo lường các phẩm chất này, nên tôi sẽ tìm cách chứng minh qua những trải nghiệm cá nhân. Độc giả có thể tự mình phán xét.
Có lần, khi đó tôi khoảng 14 tuổi, tôi muốn hù mấy đứa bạn đang tắm cùng. Kế hoạch của tôi là lặn dưới một công trình nổi rồi lặng lẽ trồi ra đầu bên kia. Hồi đó tôi bơi giỏi như vịt nên tự tin có thể thực hiện chiến công này. Thế là tôi lao xuống nước, và khi ra khỏi tầm nhìn của tụi kia, thì quay lại và lặn nhanh về phía đối diện. Nghĩ rằng mình đã an toàn ở bên kia công trình, tôi trồi lên mặt nước, nhưng thôi tiêu rồi… tôi đụng đầu vào một xà gỗ. Tôi lặn nhanh về phía trước bằng những sải tay gấp gáp cho đến khi bắt đầu hết hơi. Trồi lên lần thứ hai, đầu của tôi lại dính phải xà gỗ. Lúc đó tôi bắt đầu tuyệt vọng. Dồn hết năng lượng, tôi kinh hoàng thử lần thứ ba. Kết quả vẫn thế. Sự tra tấn khi hơi thở cạn kiệt thật không thể chịu nỗi, đầu óc tôi quay cuồng và tôi thấy mình đang chìm. Tại thời điểm đó, khi tình hình dường như vô vọng, lóe sáng chợt xuất hiện. Đầu óc tôi hiện hình toàn bộ công trình nổi. Không biết tôi đã nhận ra hay đoán rằng có một khoảng trống nhỏ giữa mặt nước và các tấm ván lót trên các xà gỗ, và bằng ý thức sắp biến mất, tôi nổi lên, ép miệng gần mấy tấm ván và cố hít một ít không khí. Chẳng may vài tia nước lọt vào khiến tôi gần như nghẹt thở. Lặp đi lặp lại quy trình này nhiều lần, tim tôi dần lấy lại nhịp, và tôi đã bình tĩnh lại. Sau đó, tôi đã thực hiện một số lần lặn không thành công, hoàn toàn mất tri giác về phương hướng, nhưng cuối cùng cũng thoát ra khỏi cái bẫy chết người. Lúc này, tụi bạn tôi đã hết hy vọng và đang chia nhau tìm xác tôi. Mùa tắm lội đó đã bị sự liều mạng ngu ngốc phá hỏng hết. Nhưng chả hiểu sao, tôi sớm quên bài học này và 2 năm sau lại tiếp tục tự đẩy mình vào một tình huống còn tồi tệ hơn.
Hồi đó, gần thành phố nơi tôi theo học có một nhà máy bột lớn với một con đập ngang sông. Thông thường nước chỉ cao hơn đập vài ba lóng tay, và bơi đến đó là một trò không nguy hiểm lắm. Tôi rất thích chơi trò này. Ngày kia, tôi đi bơi một mình như thường lệ. Tuy nhiên, khi còn cách đập một khoảng ngắn, tôi kinh hoàng thấy rằng nước đã dâng cao và cuốn tôi đi thật nhanh. Tôi cố thoát nhưng đã quá muộn. Tuy vậy, cũng may tôi đã tự cứu mình khỏi bị cuốn đi bằng cách bám vào bức tường với cả hai tay. Áp lực đè lên ngực tôi rất lớn và tôi hầu như không thể giữ đầu mình trên mặt nước. Chẳng có ma nào quanh đó và tiếng kêu cứu của tôi mất hút trong tiếng gầm của thác nước. Dần dần tôi bắt đầu kiệt sức và không thể chịu được lâu hơn nữa. Ngay khi tôi sắp buông và cắm đầu vào các mỏm đá bên dưới, tôi đã thấy trong một tia lóe sáng một sơ đồ quen thuộc minh họa nguyên tắc thủy lực: áp suất của chất lỏng chuyển động tỷ lệ thuận với vùng tiếp xúc. Tự động tôi nghiêng ngay sang trái. Như một phép màu, áp lực đã giảm xuống và tôi thấy tương đối dễ chịu ở vị trí đó. Nhưng mối nguy hiểm vẫn còn trước mặt. Tôi biết rằng sớm muộn gì cũng bị cuốn trôi xuống dưới, vì không thể có ai kịp tiếp cận để cứu, ngay cả khi tôi thu hút được sự chú ý. Bây giờ tôi thuận cả hai tay, nhưng hồi đó tôi thuận tay trái và cánh tay phải tương đối yếu. Vì lý do này, tôi không dám quay sang phía kia để nghỉ ngơi và không còn cách nào khác, tôi từ từ đẩy cơ thể mình dọc theo con đập. Tôi phải tránh xa khỏi cái nhà máy trước mặt, vì dòng nước ở đó chảy xiết và sâu hơn. Đó là một thử thách dài và đau đớn. Tôi đã đến gần cái kết cục tang thương với một lỗ hõm sâu của con đập ngay trước mắt. Tôi xoay xở vượt qua được bằng chút sức lực cuối cùng và ngất đi khi tới bờ. Người ta tìm thấy tôi. Khi đó, tôi đã bị rách hầu như toàn bộ phần da phía bên trái và phải mất nhiều tuần cơn sốt mới lắng xuống.
Đây chỉ là hai trong nhiều sự cố, nhưng có thể cũng đủ để thấy rằng nếu không phải nhờ bản năng của nhà phát minh thì tôi đã chẳng còn sống để mà kể chuyện nữa rồi.
Nhiều người thường hỏi tôi bắt đầu phát minh như thế nào và khi nào. Tôi chỉ nhớ mang máng rằng lúc đó mình đã khá tham vọng. Phát minh đầu gồm hai phần, một là thiết bị, và một là phương pháp. Thiết bị thì đã từng có trước đó, nhưng phương pháp thì chưa hề.
Chuyện là thế này: Một trong những bạn cùng chơi của tôi có một bộ dụng cụ đi câu. Cả làng thích bộ đồ này lắm. Sáng hôm sau, cả bọn kéo nhau đi bắt ếch. Tôi bị bỏ lại bơ vơ một mình do tội cãi nhau với thằng bạn này. Tôi chưa hề thấy cái móc câu và hình dung nó là một cái gì đó thật là vi diệu với những công dụng tuyệt vời. Lúc đó, không được đi câu nên tôi buồn muốn chết. Bức bối quá, tôi tìm cách kiếm một đoạn dây thép mềm, lấy hai hòn đá gõ cho sắc nhọn một đầu, uốn cong, và buộc vào một sợi dây chắc. Sau đó tôi chặt một cái cần, gom ít mồi câu, và đi xuống suối, chỗ có đầy nhóc ếch.
Xui thay, tôi không bắt được con nào cả. Lúc gần chán muốn bỏ thì tình cờ tôi đung đưa cái móc không trước mặt một con ếch đang ngồi trên một gốc cây. Lúc đầu hắn cụp mắt xuống, nhưng lát sau đôi mắt lồi ra và đỏ ngầu, hắn phình lên gấp đôi kích thước bình thường và đớp thật mạnh vào cái móc. Ngay lập tức tôi kéo hắn lên. Tôi thử làm như vậy nhiều lần nữa và phương pháp đó khá ổn. Trong khi đó, các đồng chí của tôi lại chẳng bắt được con nào dù có bộ đồ nghề tốt. Thấy tôi câu, tụi nó ghen tị xanh cả mặt. Trong một thời gian dài, tôi giữ bí quyết của mình và tận hưởng niềm vui độc quyền, nhưng cuối cùng tôi đã tiết lộ cho mọi người theo tinh thần chia ngọt sẻ bùi ngày Giáng sinh. Cả đám bạn tôi làm theo cách này, và mùa hè năm sau là một thời gian đầy thảm họa đối với lũ ếch.
Lần khác, tôi đã theo sự thúc đẩy bản năng gốc (mà sau này là thứ quyết định mọi hành động của tôi): tìm cách khai thác các nguồn năng lượng thiên nhiên phục vụ con người. Tôi đã khai thác sức mạnh của những con bọ tháng Năm và bọ tháng Sáu (người Mỹ gọi mấy con bọ cây như vậy). Đó là những loài côn trùng có hại. Có khi chúng còn làm gãy cành cây bằng sức nặng cơ thể. Các bụi cây đen đặc bọ. Tôi thường buộc 4 con bọ vào một miếng chữ thập, bố trí trên một trục nhỏ quay được, và truyền động năng đến một đĩa lớn và do đó lấy được một lượng năng lượng đáng kể. Những sinh vật này khá hiệu quả, vì một khi chúng bắt đầu bay thì không bao giờ có khái niệm dừng. Mấy con bọ cứ quay vù vù giờ này đến giờ khác, càng nóng chúng làm việc càng hăng.
Tất cả diễn ra tốt đẹp cho đến khi một thằng bé xa lạ đến. Nó là con trai một sĩ quan về hưu trong quân đội Áo. Thằng quỷ này ăn bọ sống ngon lành cứ như đang thưởng thức sò đốm xanh vậy. Cảnh tượng kinh tởm đó đã chấm dứt mọi nỗ lực của tôi trong lĩnh vực đầy hứa hẹn này. Kể từ đó, tôi chẳng bao giờ có thể chạm vào một con bọ hay bất kỳ loài côn trùng nào khác để mà sáng tạo nữa.
Sau đó, tôi nhớ là tôi đã tiến hành tháo lắp mấy cái đồng hồ treo tường của ông nội. Tháo ra thì luôn thành công, nhưng ráp lại thường không được thành công cho lắm. Vì vậy, thật dễ hiểu tại sao ông nhanh chóng “rút giấy phép thi công” của tôi. Phải 30 năm sau tôi mới lại được tháo lắp một cái đồng hồ.
Ngay sau đó, tôi tiến hành sản xuất một loại súng đồ chơi bao gồm một cái ống rỗng, một piston, và hai cái nút đậy bằng cây gai dầu. Khi bắn, tôi ép piston vào bụng, còn hai tay thì kéo ngược cái ống thật nhanh. Không khí giữa các nút đậy bị nén và nâng lên một nhiệt độ cao. Khi đó, một trong hai nút bị đẩy bắn ra với một tiếng nổ lớn. Để đạt được chất lượng súng đỉnh cao thì phải lựa được một cái ống phù hợp từ các thân cây rỗng ruột trong vườn. Tôi làm súng rất giỏi, nhưng các hoạt động thử nghiệm của tôi đã ảnh hưởng đến mấy ô kính cửa sổ trong nhà. Cuối cùng, “nhà cầm quyền” đã nhanh chóng áp dụng phương thức đàn áp bằng vũ lực, dẹp bỏ ngay phát minh này. Phải công nhận là “nhà cầm quyền” đánh hơi bị đau.
Nếu tôi nhớ không nhầm, sau lần ấy tôi đã lấy mấy đồ trong nhà để làm kiếm. Lúc đó, tôi bị những bài thơ của dân tộc Serbia thu hút. Tôi ngưỡng mộ chiến công của các anh hùng ấy lắm. Tôi từng mất hàng giờ chặt ngã “kẻ thù” (là những thân cây bắp và hoa màu trong vườn). Mẹ tôi rõ ràng là theo phe địch, và anh hùng thường nát đít.
Các phát minh này rõ ràng không đúng 100% là phát minh, mà chỉ là những thứ đồ lặt vặt tôi tự chế ra thôi. Những ngày tươi đẹp và các đồ vật vặt vãnh ấy đã gắn liền với sáu năm đầu đời, khi tôi đã học được một năm tại trường tiểu học trong làng Smiljan, cũng là nơi gia đình tôi sinh sống. Thế rồi, cả nhà tôi chuyển đến thành phố nhỏ Gospíc gần đó. Việc đổi chỗ ở này là một thảm họa với thằng nhóc như tôi. Tôi buồn hiu hắt, thiếu điều vỡ cả tim khi phải chia tay bầy bồ câu, đàn gà và mấy con cừu. Tôi giã từ đàn ngỗng bay cao tít, trên cả những đám mây mỗi sớm để rồi lúc chiều tà lại bay về trong một đội hình chiến đấu cực kỳ hoàn hảo đến độ có thể làm bẽ mặt bất kỳ anh phi công xuất sắc nào.
Trong ngôi nhà mới, tôi chỉ là một tù nhân, lặng yên ngắm nhìn những người lạ qua rèm cửa sổ. Tôi quá khó chịu đến độ thà phải đối mặt với một con sư tử đang gầm vang còn hơn phải gặp một gã dân thành phố đang đi lang thang. Nhưng thử thách khó khăn nhất của tôi là ngày Chủ nhật, khi tôi phải ăn mặc tươm tất đi dự lễ nhà thờ. Ở đó, tôi đã gặp tai nạn. Chỉ nghĩ tới thôi cũng đã làm máu tôi đông lại như sữa chua. Đó là cuộc phiêu lưu thứ hai của tôi trong một nhà thờ. Không lâu trước đây, tôi đã bị chôn vùi một đêm tại một nhà nguyện cũ trên một ngọn núi hiểm trở đến độ mỗi năm tôi chỉ được có cơ hội viếng nhà nguyện này một lần. Vụ đó thật khủng khiếp, nhưng vụ này còn tệ hơn.
Chuyện là vầy: Trong thành phố có một quý bà giàu có. Bà cũng tốt, nhưng chảnh và thường sơn son trát phấn, quần là áo lượt cùng đoàn tùy tùng ngựa xe hoành tráng để đi lễ. Một ngày chủ nhật nọ, tôi vừa đánh chuông ở tháp xong và đang chạy xuống cầu thang, thì bà lớn này đang lê áo đầm bước xuống. Tôi nhảy lên tà áo luôn. Cái đầm rách toạc, kèm theo một chuỗi âm thanh lẹt đẹt như tiếng súng trường của tân binh vậy. Cha tôi giận tím mặt. Ông cho tôi một cái tát. Nhẹ thôi, và đó là hình phạt thể xác duy nhất mà cha từng thực hiện, nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ tới giờ. Tiếp theo đó là sự bối rối, mơ hồ không thể nào tả được. Bất thần tôi chẳng hiểu gì hết. Thực tế là tôi đã bị cả cộng đồng tẩy chay cho đến khi một chuyện xảy ra, cứu chuộc mọi lỗi lầm.
Một thương gia trẻ đầy nhiệt huyết xây một trạm cứu hỏa. Họ mua xe cứu hỏa mới, đồng phục đầy đủ, huấn luyện lính cứu hỏa một cách chuyên nghiệp. Chiếc xe sơn đỏ đen rất đẹp. Một buổi chiều, họ tổ chức diễn tập. Máy móc được khiêng ra sông. Toàn dân đổ xô ra xem. Khi các bài phát biểu và nghi lễ đã xong xuôi, lệnh bơm nước bắt đầu, nhưng chả hiểu sao chẳng có giọt nước nào chảy ra khỏi vòi phun. Các giáo sư và chuyên gia cố gắng trong vô vọng để xác định nguyên nhân. Khi mọi người đã hết đường xoay xở thì tôi đến hiện trường. Kiến thức cơ học của tôi là con số không, cũng chẳng biết gì về áp lực không khí, nhưng theo bản năng tôi mò tìm cái ống hút dưới nước và thấy nó bị hỏng. Khi tôi lội ra sông và chỉnh lại, nước tuôn xối xả, làm không biết bao nhiêu người ăn mặc tươm tất ướt chèm nhẹp. Archimedes chạy khỏa thân trên đường phố Syracuse, miệng hét lớn ‘Eureka’ cũng chẳng cách hơn tôi lúc ấy. Mọi người mừng rỡ kiệu tôi lên vai. Hôm đó tôi là người hùng.
Sau khi định cư tại thành phố, tôi bắt đầu bỏ 4 năm ở cái trường gọi là trường tiểu học để chuẩn bị cơ sở kiến thức nền tảng cho các vấn đề phức tạp hơn ở trường cấp hai. Trong thời gian này, những nỗ lực trao trẻ, những hành động khác thường cũng như những rắc rối vẫn tiếp tục xảy ra. Ngoài nhiều thứ khác, tôi còn đạt được một danh hiệu khá độc: nhà vô địch bắt quạ. Phương pháp của tôi vô cùng đơn giản. Tôi vào rừng, ẩn trong bụi, và bắt chước tiếng kêu của các loài chim. Thường thì tôi nhận được nhiều tiếng kêu hồi đáp và một lát sau, con quạ sà xuống bụi cây gần đó. Tôi chỉ cần ném một mảnh bìa cứng đánh lạc hướngchú ý rồi nhảy lên chụp lấy nó trước khi nó kịp bay. Bằng cách này, tôi muốn bắt bao nhiêu thì bắt.
Những dịp nọ, có chuyện xảy ra khiến tôi bắt đầu tôn trọng lũ quạ. Tôi bắt được một đôi chim khá đẹp và đang trên đường về nhà với một người bạn. Khi chúng tôi rời khỏi rừng, hàng ngàn con quạ đã tụ tập lại, kêu gào rất khiếp. Một vài phút sau, cả bầy đuổi theo và bao vây hai thằng tôi. Lúc đó tôi vẫn còn vui, cho tới khi bất thình lình ăn trọn một cú mổ phía sau đầu và ngã xuống. Rồi thì cả bầy tấn công vô cùng hung hãn. Tôi buộc phải thả hai con chim và chạy bán sống bán chết theo thằng bạn. May là chui kịp vào hang để núp, không thì tiêu rồi.
Trong phòng học có một vài mô hình cơ khí khiến tôi quan tâm và tôi chú ý nhất là mấy cái tua-bin thủy điện. Tôi đã làm nhiều cái tua-bin và rất vui khi nhìn cái máy chạy tốt. Bác tôi thì không thích loại hình tiêu khiển này, và quở tôi không ít lần. Tôi đã bị cuốn hút khi đọc kỹ một bài mô tả thác Niagara, và đã chụp ảnh trong trí tưởng tượng một bánh xe lớn chạy bằng thác nước. Tôi nói với bác rằng tôi sẽ tới Mỹ và thực hiện kế hoạch này. 30 năm sau, ý tưởng của tôi được thực hiện tại Niagara. Sự bí ẩn kỳ lạ của trí óc thật đáng kinh ngạc.
Tôi đã làm đủ loại phát minh cũng như đủ loại trò mèo. Trong số đó, tôi nghĩ tôi làm nỏ là giỏi nhất. Mũi tên của tôi khi cự ly gần bay biến ngay khỏi tầm mắt và xuyên qua cả một tấm ván gỗ thông dày 1 inch (2,54 cm). Do thường xuyên kéo nỏ, da bụng tôi dần dần giống hệt như da cá sấu. Chẳng biết có phải do hay luyện “tuyệt chiêu” này nên giờ tôi có thể tiêu hóa cả đá cuội không nữa!
Nói đến đây, tôi cũng phải kể về cái ná của mình. Loại vũ khí đơn giản này không chừng hấp dẫn đến độ tôi có thể biểu diễn trò bắn ná ở nhà hát ấy chứ. Sau đây, tôi sẽ kể về một trong những kỳ công với cái vũ khí chiến tranh độc nhất vô nhị này. Câu chuyện rất khó tin, đến độ độc giả cả tin nhất cũng sẽ nghi ngờ.
Lần đó, tôi vừa luyện bắn ná vừa đi bộ với bác dọc bờ sông. Mặt trời đang lặn, mấy con cá hương đang vui đùa và chốc chốc lại có một con phóng lên không trung, thân hình lấp lánh của nó hiện rõ nhờ nền tảng đá nhô ra phía bên kia. Tất nhiên bất kỳ cậu bé nào cũng có thể bắn trúng con cá dưới những điều kiện thuận lợi như thế. Tuy nhiên, tôi tự đặt cho mình một nhiệm vụ khó khăn hơn. Tôi báo trước cho bác, đến cả chi tiết nhỏ nhất, những gì tôi định làm: Tôi sẽ ném một hòn đá trúng vào con cá, ép cơ thể nó vào tảng đá, và cắt nó ra làm hai. Và tôi đã làm được y như vậy. Bác tôi nhìn tôi, gần như sợ hãi đến mất trí và kêu lên: “Vade retro Satana!” (Lui lại đi quỷ Satan!). Vài ngày sau bác vẫn còn nhìn tôi và nói câu đó.
Những câu chuyện khác dù rất hay, nhưng tôi đã quên đi ít nhiều. Nhưng thôi, tôi cảm thấy rằng chỉ nhiêu đó là đủ để hài lòng yên nghỉ trên đỉnh vinh quang cùng vòng nguyệt quế của mình cả ngàn năm sau nữa rồi…



