· Duc Minh · stories  · 28 min read

Nikola Tesla - Thuở thiếu thời

Xuất thân, gia đình, tuổi thơ và nền tảng hình thành Tesla.

Xuất thân, gia đình, tuổi thơ và nền tảng hình thành Tesla.

Nikola Tesla (1856-1943), nhà khoa học kiệt xuất người Mỹ gốc Serbia. Trong cuộc đời mình, Tesla đã có đến khoảng 300 bằng phát minh, trong đó, đóng góp quan trọng nhất cho nhân loại của Tesla là việc góp phần đưa dòng điện xoay chiều vào đời sống.
Tuy cuộc đời Tesla không bằng phẳng, phải chịu nhiều đợt bệnh thập tử nhất sinh, bị cộng sự chơi xấu, và cuối đời phải sống trong thiếu thốn và mất đi không một người thân thích bên cạnh, nhưng ông đã để lại một di sản khổng lồ cho nhân loại. Để tri ân, giới khoa học đã đặt tên đơn vị đo cường độ cảm ứng từ là tesla.

Lời Nói Đầu

Quyển sách các bạn đang xem là câu chuyện về cuộc đời đầy thăng trầm nhưng vô cùng ý nghĩa của Nikola Tesla, một trong những nhà phát minh vĩ đại nhất của nhân loại, người đã góp phần thay đổi hoàn toàn bộ mặt thế giới Thế kỷ XX-được viết bởi chính Tesla.

Được mệnh danh là “nhà khoa học điên” của giới vật lý, Tesla là người đi tiên phong đưa kỹ thuật điện, điện từ vào đời sống. Với cách tư duy kỳ lạ của mình, ông đã có đến khoảng 300 bằng phát minh, tiêu biểu như động cơ điện không đồng bộ hay lõi Tesla. Rất nhiều phát minh của Tesla đang được ứng dụng trong các thiết bị điện xung quanh ta ngày nay.
Thật không dễ để hiểu thấu hết những gì đang diễn ra trong đầu Tesla, một thiên tài với trí nhớ hình ảnh, biết 8 thứ tiếng* có tầm nhìn vượt thời đại. Những gì ông đã viết trong quyển sách này có thể kỳ lạ và khó tin, nhưng hãy nhớ rằng, người ta đã mất gần một thế kỷ để biết những gì Tesla đề xuất là chính xác và khả thi ! Larry Page - đồng sáng lập Google – đã được truyền cảm hứng sau khi đọc tự truyện của Tesla vào năm 12 tuổi.* Hy vọng quý bạn đọc có thể nhìn ra được điều gì đó mới mẻ trong những câu chữ của Tesla, bởi đó có thể là những hiểu biết giúp ta thay đổi cả thế giới này. Thành phố Hồ Chí Minh, 2016 Ecoblader

Chương 1: Thuở thiếu thời

Sự phát triển không ngừng của con người phụ thuộc sống còn vào các phát minh. Nó là sản phẩm quan trọng nhất của bộ não sáng tạo. Mục đích cuối cùng của việc phát minh là để trí tuệ làm chủ hoàn toàn thế giới vật chất, khai thác các lực lượng thiên nhiên phục vụ nhu cầu của con người. Các nhà phát minh phải thực hiện nhiệm vụ khó khăn ấy, nhưng lại thường bị hiểu lầm và không được tưởng thưởng xứng đáng. Tuy nhiên, họ lại cảm thấy được bù đắp trong quá trình luyện tập phát triển quyền uy của mình. Họ biết rằng mình là một thành viên của một tầng lớp đặc biệt: Nếu không có các nhà phát minh, nhân loại có lẽ đã tiêu tùng từ lâu trong cuộc đấu tranh gay gắt chống lại các tác nhân bạo tàn của Mẹ Tự Nhiên.
Riêng tôi mà nói, tôi cũng đã hưởng quá nhiều niềm vui tinh tế như vậy. Nhiều lắm, nhiều năm qua cuộc sống của tôi ít khi thiếu vắng niềm vui. Tôi được ghi nhận là một trong những người làm việc tích cực nhất. Nếu nói suy nghĩ là lao động thì có lẽ đúng vậy thật, bởi hầu như mỗi thời khắc còn thức, tôi đều tập trung tư duy hết mình. Nhưng nếu xem lao động là một hoạt động rõ ràng trong một thời gian nhất định theo một quy tắc cứng nhắc, thì có lẽ tôi phải tự xếp mình vào danh sách những kẻ lười nhất trong những kẻ lười.
Khi làm việc dưới sức ép, vì bắt buộc, ta luôn phải hy sinh một lượng năng lượng sống. Tôi chưa bao giờ phải trả giá như vậy. Ngược lại, cuộc sống của tôi ngày càng tràn đầy năng lượng trong quá trình tư duy. Trong quá trình cố gắng liên kết và kể lại một cách trung thực chuyện đời mình, dù miễn cưỡng thì tôi vẫn phải nói rằng những trải nghiệm thời trẻ chính là những thứ đóng vai trò chủ chốt trong sự nghiệp của tôi sau này. Những nỗ lực đầu tiên của con người khi còn nhỏ hoàn toàn mang tính bản năng, tạo nên trí tưởng tượng sống động và không bị gò bó trong khuôn khổ. Khi lớn lên, lý trí khẳng định địa vị của mình, dần dần ta trở nên hệ thống và tư duy có kế hoạch hơn. Tuy vậy, những xung động ban đầu, dù không cho ngay kết quả, lại chứa đựng những khoảnh khắc tuyệt vời nhất tạo nên định mệnh cả cuộc đời. Thật vậy, bây giờ tôi thấy hơi tiếc: Nếu hồi đó tôi hiểu và nuôi dưỡng trí tưởng tượng trẻ thơ thay vì cố gắng đàn áp nó, thì chắc tôi đã gia tăng đáng kể đóng góp của mình cho nhân loại.
Dù là thế, nhưng cho đến tuổi trưởng thành tôi mới nhận ra mình là một nhà phát minh. Điều này là do một số nguyên nhân. Trước tiên, tôi có một người anh tài năng xuất chúng, một trong những hiện tượng tâm lý hiếm hoi mà sinh học không thể giải thích được. Anh mất sớm khiến cha mẹ tôi buồn lắm. Hồi đó, nhà tôi có một con ngựa do bạn thân của cha mẹ tôi tặng. Con ngựa giống Ả Rập, đẹp tuyệt, khôn như người. Cả nhà cưng nó lắm, vì có một dịp nó đã cứu sống cha tôi.
Lần đó, cha tôi được triệu tập vào một đêm đông để thực hiện nhiệm vụ khẩn cấp. Khi băng qua núi, cha bị đàn sói bu lại. Con ngựa sợ hãi bỏ chạy, quăng mạnh ông xuống đất. Nó chạy về đến nhà, máu me đầy người và gần như kiệt sức. Thế nhưng, sau khi chuông báo động vang lên, ngay lập tức nó lại lao đi quay lại chỗ cha tôi. Đoàn tìm kiếm chưa đi được bao xa thì đã gặp cha. Lúc này, ông đã tỉnh và ngồi lại trên lưng ngựa. Ông không biết rằng mình đã nằm vùi trong tuyết nhiều giờ.
Thế nhưng, chính con ngựa này đã làm anh Dane* bị thương rồi mất. Tôi đã phải tận mắt chứng kiến cảnh tượng bi thảm đó. Mặc dù nhiều năm đã trôi qua, mọi chuyện ngày hôm ấy vẫn rõ mồn một trong đầu tôi. Những hồi ức về thành tựu của anh Dane khiến mọi thứ tôi làm trở nên mờ nhạt. Mọi thành tựu của tôi không làm cha mẹ hãnh diện, mà trái lại, càng khiến họ cảm thấy mất mát và buồn khổ hơn. Vì lý do đó, trong cả quãng đời thơ ấu, tôi không hề tự tin chút nào.
Nhưng nói đi cũng phải nói lại, tôi cũng không phải là đần độn. Ít ra là không đần trong những câu chuyện mà tôi vẫn còn nhớ về thuở nhỏ của mình. Ngày nọ, khi tôi và mấy đứa bạn đang chơi trên đường thì mấy người có chức có quyền đi ngang qua. Quý ông đáng kính nhất…một công dân giàu có… cho mỗi đứa một đồng bạc. Đến chỗ tôi, ông ấy đột nhiên dừng lại và ra lệnh, “Nhìn vào mắt ta đây.” Tôi gặp cái nhìn của ông, định đưa tay ra nhận đồng bạc quý giá, thì mấy lời sau của ông làm tôi thất vọng não nề: “Không, không được. Nhóc không được lấy tiền của ta. Nhóc quá thông minh.”
Người ta cũng hay kể một câu chuyện vui về tôi. Chả là tôi có hai người cô già mặt mày nhăn nheo. Một người còn có mấy cây răng chìa ra như ngà voi. Mỗi khi cô ấy hôn là răng cỏ nó đâm vô má. Không gì làm tôi ớn hơn là việc được những người họ hàng không mấy xinh đẹp này âu yếm. Lần đó, khi đang được mẹ bồng trên tay, tôi bị hai cô hỏi ai đẹp hơn. Sau khi chăm chú nghiên cứu, ngắm nghía khuôn mặt của họ, tôi trả lời một cách đầy thông minh: Tôi chỉ vào một cô, bảo: “Cô này không xấu bằng cô kia.”
Lại nói một chuyện khác. Ngay từ khi sinh ra tôi đã được định sau này làm giáo sĩ. Ý nghĩ này ám tôi suốt. Tôi muốn trở thành kỹ sư, nhưng cha tôi tính cứng nhắc lắm. Ông là con trai một sĩ quan phục vụ trong quân đội của Napoleon Đại đế. Cha và bác tôi (một giáo sư toán học tại một trường nổi tiếng) đã được giáo dục theo kiểu quân đội từ nhỏ. Nhưng thật lạ, sau đó cha tôi lại chuyển qua làm giáo sĩ. Dù vậy, ông vẫn rất thành công với nghề này. Cha tôi là một người rất uyên bác, một nhà triết học tự nhiên, nhà thơ và nhà văn thực sự. Bài giảng của ông được đánh giá ngang ngửa với tu sĩ nổi tiếng Abraham a-Sancta-Clara. Cha có một trí nhớ phi thường và thường xuyên trích dẫn những đoạn rất dài từ các tác phẩm bằng nhiều ngôn ngữ. Ông thường nói vui rằng nếu lỡ như có mất vài cuốn sách kinh điển, ông vẫn có thể nhớ và viết lại dễ dàng. Phong cách viết của ông rất được ngưỡng mộ. Ông viết ngắn gọn nhưng dí dỏm và đầy tính châm biếm. Các nhận xét hài hước của ông luôn luôn độc đáo và đặc trưng.
Để minh họa, tôi sẽ kể vài chuyện. Trong số những người giúp việc, có một người lé mắt tên là Mane, được thuê làm việc lặt vặt quanh trang trại. Ngày nọ, ông ta chẻ củi. Khi ông vung rìu, cha tôi đứng gần đó và cảm thấy không êm. Cha cảnh báo một cách hài hước: “Vì Chúa, Mane à, đừng có bửa vào những gì anh đang nhìn mà hãy bửa vào những gì anh định bửa ấy nhé.” Một lần khác, khi đang đi xe, một người bạn vô ý để cái áo lông thú đắt tiền của mình chà trên bánh xe. Cha tôi nhắc: “Kéo áo khoác lên, anh đang làm hư bánh xe của tôi đấy!”
Cha tôi có một thói quen kỳ lạ: Ông thường nói chuyện với chính mình, nói rất hăng say và tranh luận rất sôi nổi. Những lúc như thế ông thường đổi giọng nói. Ai đó mà tình cờ nghe được chắc tưởng rằng nhiều người đang ở trong phòng.
Dù phải nói rằng mỗi phát minh của tôi phần nhiều đều nhờ thừa hưởng từ mẹ, nhưng sự huấn luyện của cha cũng rất hữu ích. Hồi đó tôi phải làm đủ các loại bài tập: đoán suy nghĩ của người khác, tìm lỗi diễn đạt, lặp lại những câu nói dài hoặc tập tính nhẩm chẳng hạn. Những bài học hàng ngày đó giúp tăng cường trí nhớ và lý luận, đặc biệt là để phát triển khả năng phê phán. Chắc chắn những kỹ năng đó rất có lợi.
Giờ nói đến mẹ tôi. Mẹ là hậu duệ của một dòng họ lâu đời nhất ở trong nước và có nhiều nhà phát minh. Cả cha và ông nội của mẹ tôi đã tạo ra rất nhiều dụng cụ gia đình, nông cụ và nhiều thứ khác. Bà là một phụ nữ thực sự vĩ đại, kỹ năng hiếm có, can đảm và dũng cảm, đã vượt qua những cơn bão của cuộc đời và trải qua nhiều thử thách. Khi bà mười sáu tuổi, một bệnh dịch nguy hiểm tràn lan trong nước. Ông ngoại tôi được gọi đi làm lễ rửa tội lần cuối cùng cho những người hấp hối. Trong khi ông ngoại đi vắng, mẹ đã một mình đến giúp một gia đình hàng xóm đang bị căn bệnh hoành hành. Bà tắm, mặc quần áo và đặt người chết nằm ngay ngắn, trang trí hoa theo đúng phong tục. Khi ông ngoại về thì tất cả mọi thứ đã sẵn sàng để an táng theo nghi lễ Kitô giáo.
Mẹ tôi là một nhà phát minh hàng đầu. Lẽ ra bà đã đạt được nhiều thành tựu nếu không chọn sống xa rời môi trường xô bồ hiện đại với nhiều cơ hội lớn. Mẹ phát minh ra đủ loại công cụ, chế đủ kiểu thiết bị và tự tay dệt nên những mẫu vải đẹp nhất từ loại sợi do bà tự kéo. Thậm chí bà còn tự tay gieo hạt, trồng cây và tách sợi. Bà làm việc không biết mệt mỏi, từ mờ sáng cho đến tận đêm khuya. Hầu hết trang phục và đồ nội thất trong nhà là sản phẩm chính tay mẹ làm. Khi đã quá 60, những ngón tay bà vẫn còn đủ nhanh nhẹn để xâu kim buộc chỉ!
Thực ra ngoài những lý do kể trên, có một lý do khác còn quan trọng hơn khiến tôi thức tỉnh muộn màng. Trong thời niên thiếu, tôi bị một bệnh đặc biệt. Các hình ảnh thường xuất hiện kèm những lóe sáng rất mạnh, làm nhòe đi hình ảnh các vật thực, cắt ngang suy nghĩ cũng như hành động của tôi. Đó là hình ảnh những cảnh và vật mà tôi đã từng nhìn thấy chứ không phải hình ảnh tưởng tượng. Khi tôi nghe một từ nào đó, hình ảnh về sự vật, hiện tượng mà từ đó nhắc đến sẽ hiện ra sống động trước mắt tôi. Đôi khi tôi hoàn toàn không thể phân biệt những gì tôi thấy là thực hay không nữa. Điều này khiến tôi rất khó chịu và lo lắng. Không có chuyên gia tâm lý hoặc sinh lý nào mà tôi đã tham khảo ý kiến có thể giải thích thỏa đáng hiện tượng này. Hiện tượng này có vẻ như rất đặc biệt, dù tôi có thể dễ mắc phải vì anh trai tôi cũng đã từng gặp triệu chứng tương tự. Có thể những hình ảnh đó là kết quả của hoạt động phản xạ từ não lên võng mạc do kích thích mạnh. Những hình ảnh đó chắc chắn không phải là ảo giác như được tạo ra trong những đầu óc bệnh tật, vì xét những khía cạnh khác thì tôi hoàn toàn bình thường và tỉnh táo. Muốn biết tôi phải khổ sở thế nào, ta hãy giả sử rằng tôi đã chứng kiến một đám tang hay một cảnh tượng tổn hại thần kinh tương tự như thế. Thế là vào buổi đêm tĩnh mịch, một bức tranh sinh động của cảnh đám tang hiển hiện trước mắt tôi dù tôi có muốn hay không.
Nhưng về mặt khoa học mà nói, nếu lời giải thích của tôi là đúng, thì có thể chiếu lên màn hình hình ảnh của bất kỳ vật gì mà người ta đang nghĩ trong đầu. Tiến bộ đó sẽ cách mạng hóa tất cả mọi mặt của đời sống nhân loại. Tôi tin rằng điều kỳ diệu này có thể và sẽ được thực hiện trong thời gian tới. Nói thêm là tôi đã dành nhiều thời gian suy nghĩ giải quyết vấn đề này. Tôi đã từng thành công trong việc đưa những hình ảnh trong đầu tôi vào tâm trí một người đang ngồi ở phòng khác.
Để giải thoát bản thân khỏi những hình ảnh tra tấn này, tôi cố gắng tập trung tâm trí vào một hình ảnh nào đó khác. Theo cách này tôi thường thấy nhẹ nhõm tạm thời, nhưng lại phải tạo ra hình ảnh mới liên tục. Chỉ một thời gian ngắn, tôi đã dùng hết những gì có trong đầu; cuộn phim’ của tôi đã chiếu hết, bởi vì tôi nhìn thế giới quá ít, chủ yếu là những thứ trong nhà và môi trường nhỏ xung quanh. Khi tôi thực hiện các hoạt động tinh thần này lần hai hoặc ba để đuổi mấy hình ảnh kinh hoàng kia đi, phương thuốc dần dần mất hết hiệu lực.
Sau đó, theo bản năng, tôi bắt đầu những chuyến du ngoạn vượt quá giới hạn thế giới nhỏ bé của mình, và tôi đã thấy những cảnh mới. Lúc đầu, những cảnh mới đó mờ nhạt không rõ ràng, và thường biến mất đi khi tôi cố tập trung chú ý. Rồi thì các hình ảnh tưởng tượng bắt đầu mạnh dần, ngang ngửa với các hình ảnh tôi từng thấy trong thực tế. Dần dần tôi phát hiện rằng mình thấy thoải mái khi đi sâu vào khám phá thế giới tư duy thị giác của mình để thu nhận liên tục những trải nghiệm mới. Và thế là tôi bắt đầu cuộc hành trình, dĩ nhiên là trong tâm trí của tôi. Mỗi đêm (đôi khi cả ban ngày), khi ở một mình, tôi thường bắt đầu các cuộc hành Trình–thấy những địa điểm, thành phố và quốc gia mới; sống ở đó, gặp gỡ mọi người, kết bạn làm quen và, dù không thể tin được, thực tế là họ quý giá đối với tôi như những người trong cuộc sống thực vậy, không kém cạnh chút nào.
Tôi làm như vậy thường xuyên cho đến khoảng năm 17 tuổi, khi suy nghĩ của tôi nghiêm túc quay sang việc phát minh. Bấy giờ, tôi rất vui thấy rằng mình có thể hình dung mọi thứ thật dễ dàng. Tôi chẳng cần có mô hình, bản vẽ hay thí nghiệm gì cả. Tôi có thể hình dung mọi thứ ngay trong tâm trí mình. Vì vậy, một cách vô thức, tôi đã phát triển một phương pháp mới để vật chất hóa các khái niệm và ý tưởng sáng tạo. Phương pháp này đối nghịch tận gốc với phương pháp thí nghiệm thuần túy. Cách của tôi nhanh chóng và hiệu quả hơn nhiều.
Lúc người ta xây dựng một thiết bị để thực tế hóa một ý tưởng thô, họ không thể tránh khỏi việc mê mải với các chi tiết nhỏ của bộ máy. Khi tiếp tục cải thiện và xây dựng lại, sức tập trung giảm bớt và họ không còn nhìn thấy cái nguyên lý tiềm ẩn cơ bản nhất nữa. Kết quả thì cũng có, nhưng luôn luôn phải hy sinh chất lượng. Phương pháp của tôi thì khác. Tôi không vội vàng lao vào công việc thực tế. Khi có ý tưởng, ngay lập tức tôi bắt đầu xây dựng nó trong trí tưởng tượng. Tôi thay đổi cấu trúc, cải thiện và vận hành thiết bị trong tâm trí của mình. Dù tôi chạy tua-bin trong tâm tưởng hay thử nghiệm trong xưởng thì đối với tôi, nó cũng đều tuyệt đối phi vật chất. Tôi còn lưu ý xem nó mất cân bằng hay không nữa. Không có bất cứ điều gì khác biệt, các kết quả đều giống nhau. Bằng cách này tôi có thể nhanh chóng phát triển và hoàn thiện một khái niệm mà không cần chạm vào bất cứ thứ gì. Khi đã hoàn thiện hết mức có thể xem đi xem lại không có lỗi nào, tôi sẽ cụ thể hóa hình ảnh tưởng tượng thành vật thể. Thiết bị hoạt động y như tôi đã hình dung, và thí nghiệm có đầu ra chính xác như kế hoạch. 20 năm nay chưa có một ngoại lệ nào. Sao mà khác được chứ! Kỹ nghệ điện hay cơ khí về bản chất đều chỉ là quá trình hiện thực hóa ý tưởng ra kết quả thôi. Do đó, hầu như không có một thứ gì không thể kiểm tra trước được bằng các dữ liệu lý thuyết và thực tế có sẵn. Việc hấp tấp đưa ý tưởng thô đang mài giũa vào thực tế (qua các thí nghiệm thử sai) chỉ là một cách lãng phí năng lượng, tiền bạc và thời gian mà thôi.
Căn bệnh này của tôi còn có một ưu điểm khác. Hoạt động trí não không ngừng phát triển năng lực quan sát và giúp tôi khám phá ra một chân lí: Tôi để ý là các hình ảnh xuất hiện trong đầu tôi đều bắt nguồn từ một hình ảnh thực tế nào đó trong những điều kiện đặc biệt khác thường. Vào mỗi lần các hình ảnh xuất hiện, tôi buộc phải xác định xem xung động ban đầu là gì. Sau một thời gian, hoạt động truy ngược lại nguồn gốc hình ảnh trở nên gần như tự động, và tôi đã có khả năng kết nối nguyên nhân và kết quả cực kỳ tuyệt vời. Thật ngạc nhiên, chẳng bao lâu sau tôi phát hiện rằng mọi tư tưởng mà tôi tri nhận đều xuất phát từ một ấn tượng bên ngoài. Không chỉ vậy, tất cả các hành động của tôi cũng bắt nguồn từ hình ảnh tiếp nhận từ môi trường. Theo thời gian, mọi thứ trở nên hoàn toàn rõ ràng: Tôi chỉ là một cỗ máy tự động được phú cho khả năng phản ứng với các kích thích của môi trường thông qua các giác quan. Từ các kích thích và phản ứng, “cỗ máy tự động TÔI” phát ra các suy nghĩ và hành động.
Từ hiểu biết này, tôi đã phát triển nghệ thuật tự động hóa từ xa. Dù đến nay vẫn chưa hoàn hảo, nhưng tiềm năng cuối cùng cũng sẽ bộc lộ. Tôi đã lên kế hoạch về các thiết bị tự động tự kiểm soát lâu rồi. Tôi tin rằng các máy này có thể được sản xuất khi có đủ nền tảng lý luận và tạo ra một cuộc cách mạng trong nhiều ngành thương mại và công nghiệp.
Lần đầu tiên tôi truy xuất hình ảnh một cách có ý thức là năm 12 tuổi. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa kiểm soát được những cái lóe sáng đã nói đến ở trên. Có lẽ đó là trải nghiệm kỳ lạ và khó giải thích nhất của tôi. Nó thường xảy ra khi tôi đang gặp tình huống nguy hiểm hoặc đau buồn, hoặc khi tôi rất hưng phấn. Đôi lúc tôi thấy tất cả không khí xung quanh mình đầy những ngọn lửa đang bùng cháy. Cường độ của nó thay vì giảm bớt lại tăng theo thời gian, và dường như đạt cực đại khi tôi khoảng 25 tuổi.
Thời gian ở Paris năm 1883, một nhà sản xuất nổi tiếng người Pháp mời tôi đi săn. Tôi nhận lời. Lâu nay tôi chỉ quanh quẩn trong nhà máy, nên không khí trong lành sẽ giúp tôi tăng cường sức sống. Khi về lại thành phố đêm đó, tôi cảm giác rõ ràng rằng bộ não của mình đang cháy rừng rực.* Tôi thấy mình là một nguồn sáng như thể có một ông mặt trời nhỏ trong đầu. Cả đêm tôi gần như phải ướp lạnh cái đầu. Cuối cùng, những lóe sáng giảm tần suất và cường độ, nhưng phải mất hơn 3 tuần nó mới hoàn toàn lắng xuống. Khi họ mời lần hai, tôi gần như hét ngay câu trả lời: KHÔNG!
Hiện tượng phát sáng vẫn xuất hiện hết lần này đến lần khác, ví dụ như khi một ý tưởng tiềm năng xuất hiện trong đầu tôi. Thế nhưng, các lóe sáng không còn mạnh như trước. Khi nhắm mắt, lần nào tôi cũng thấy một phông nền toàn xanh rất đậm, chẳng khác gì bầu trời vào một đêm không mây không sao. Vài giây sau, vùng xanh này trở nên sống động với vô số bông hoa thú vị màu xanh lá, xếp thành nhiều lớp tiến về phía tôi. Sau đó, bên phải xuất hiện một mô hình gồm hai hệ thống đường song song và gần nhau. Hai hệ thống đường này vuông góc một cách hoàn hảo, với đủ loại sắc màu, từ vàng đến xanh lá, và trội hơn hẳn là vàng kim loại. Ngay sau đó, các đường thẳng sáng lên và toàn bộ được rắc dày những chấm ánh sáng lấp lánh. Hình ảnh này di chuyển chầm chậm khắp trường thị giác trong khoảng 10 giây rồi biến mất đi ở phía bên trái, để lại phía sau một vùng màu xám trơ trơ khá khó chịu cho tới khi pha thứ hai lại đến. Mỗi lần, trước khi thiếp ngủ, hình ảnh người hoặc vật xuất hiện trước “mắt” tôi. Khi tôi nhìn thấy những hình ảnh này, tôi biết mình sắp mất đi ý thức. Nếu các hình ảnh không xuất hiện nghĩa là đêm đó tôi không ngủ được.
Để thấy trí tưởng tượng có vai trò tới mức độ nào trong thời niên thiếu của mình, tôi sẽ minh họa bằng một số trải nghiệm kỳ lạ khác.
Như mọi đứa trẻ khác, tôi thích nhảy và khát khao mãnh liệt muốn nâng thân mình bay trong không trung. Thỉnh thoảng một cơn gió mạnh đầy oxy thổi từ núi xuống, khiến cơ thể tôi nhẹ như nút bấc. Sau đó tôi thường nhảy và lơ lửng trong không trung một thời gian dài. Cảm giác đó thật thú vị, nhưng cũng rất đáng thất vọng khi tôi chợt tỉnh và quay về thực tại.
Hồi đó, tôi có nhiều sở thích lẫn nhiều thứ không thích, cũng như nhiều thói quen kỳ lạ. Một số rõ ràng là do những ấn tượng tôi cảm nhận được từ thực tế xung quanh, trong khi một số khác không biết do đâu. Tôi ghét dữ dội khuyên đeo tai của phụ nữ, nhưng đồ trang trí khác, như vòng đeo tay chẳng hạn, thì tôi yêu ghét tùy theo mẫu mã. Mỗi lần nhìn ngọc trai là gần như tôi sốc luôn, nhưng tôi lại mê mẩn cái vẻ long lanh của các tinh thể hoặc các vật có cạnh sắc và bề mặt phẳng. Tôi cũng không bao giờ muốn chạm vào tóc của người khác, trừ khi có người dí súng vào đầu ép tôi làm. Tôi phát sốt khi nhìn mấy quả đào, và tôi khiếp nhất nếu có một miếng long não đâu đó trong nhà. Ngay cả bây giờ tôi cũng không thể tránh khỏi cảm giác khó chịu với các xung động tiêu cực này. Khi làm rơi những vuông giấy nhỏ trong một cái đĩa nước, tôi luôn cảm nhận được một vị đặc biệt kinh khủng trong miệng.
Tôi đếm bước khi đi dạo và tính toán khối lượng đồ ăn trong đĩa súp, tách cà phê và các mẩu thức ăn, nếu không tôi sẽ thấy bữa ăn chán hết sức. Tất cả các hành vi hoặc hoạt động lặp đi lặp lại mà tôi thực hiện phải chia hết cho 3, và nếu bỏ sót tôi thấy mình buộc phải làm lại tất cả, dù có mất nhiều giờ đi nữa.
Từ nhỏ cho tới lúc 8 tuổi, tôi khá yếu ớt và hay do dự. Tôi không đủ can đảm hay sức mạnh để có quyết tâm vững chắc. Tình cảm của tôi đến theo từng đợt, dâng trào và thay đổi không ngừng giữa các thái cực. Những ước muốn của tôi rất hao tốn sức và giống như con quái vật nhiều đầu, chặt cái này nó mọc lên cái khác. Tôi đã bị ám ảnh bởi những suy nghĩ về nỗi đau trong cuộc sống, cái chết và sự sợ hãi Chúa trời. Tôi bị thuyết phục bởi sự mê tín và sống trong triền miên sợ hãi, từ ma quỷ, thần linh, đến những quái vật bóng tối xấu xa khác. Rồi bỗng nhiên, một sự chuyển biến to lớn xảy đến làm thay đổi toàn bộ con đường tồn tại của tôi.
Trong tất cả mọi thứ, tôi thích nhất là sách. Cha tôi có một thư viện lớn và bất cứ khi nào có thể là tôi cố gắng tranh thủ thỏa mãn đam mê. Ông không cho phép và thường nổi cơn thịnh nộ khi bắt gặp tôi đọc sách. Sau này, khi thấy tôi lén đọc sách, cha giấu sạch nến đi. Ông không muốn tôi hư mắt. Nhưng rồi, tôi lén lấy mỡ động vật làm đèn đốt. Cứ đêm về, tôi che lỗ khóa và các khe hở rồi đốt “nến” đọc tới sáng, khi mọi người đã ngủ say, còn mẹ tôi thì bắt đầu công việc gian khổ hàng ngày. Có một lần, tôi tìm được một cuốn tiểu thuyết tên ‘Abafi’ (nghĩa là ‘con trai của Aba’), một bản dịch tiếng Serbia tác phẩm của Josika Miklós, nhà văn Hungary nổi tiếng. Bằng cách nào đó, tác phẩm này đã đánh thức sức mạnh ý chí tiềm ẩn trong tôi. Từ đó, tôi bắt đầu thực hành tự chủ. Lúc đầu, quyết tâm của tôi lụi tàn như tuyết tháng Tư, nhưng sau một thời gian ngắn, tôi đã chinh phục được điểm yếu và có được niềm vui mà trước đây chưa bao giờ biết tới: thực hiện được những thứ mình quyết tâm làm.
Theo thời gian, sự luyện tập tinh thần mạnh mẽ này dần trở nên quen thuộc. Lúc đầu, tôi phải kiềm chế những mong muốn, nhưng dần dần ham muốn và ý chí trở thành đồng nhất. Sau nhiều năm kỷ luật như vậy, tôi đã làm chủ được bản thân tới mức có thể đùa giỡn với những đam mê có sức mạnh hủy diệt cả những người mạnh mẽ nhất. Có một thời gian, tôi dính vào cờ bạc, khiến cha mẹ vô cùng lo lắng. Được ngồi xuống đánh bài là tuyệt đỉnh niềm vui. Cha tôi sống đời mẫu mực và không thể nào tha thứ cho sự lãng phí thời gian và tiền bạc vô nghĩa này.
Tôi thì có quyết tâm mạnh mẽ đấy, nhưng triết lý sống lại cực kỳ tào lao. Tôi hay nói với cha thế này: “Thực ra con muốn ngưng là ngưng được thôi, nhưng tại sao phải ngưng làm thứ khiến con sướng như đang ở thiên đàng chứ cha?” Thế là cha tôi bừng bừng, vừa quạu vừa khinh bỉ phát ngôn của ông con.
Nhưng mẹ thì khác. Hiểu tính cách của đàn ông, và biết rằng chỉ có mình mới cứu được mình, nên bà đã dùng cách khác. Tôi nhớ một chiều nọ, khi đã thua sạch túi và thèm đánh bài chết được, thì mẹ tới đưa tôi một xấp tiền rồi nói: “Đi mà hưởng thụ đi con. Con đốt sạch gia sản nhà mình càng sớm càng tốt. Mẹ biết con sẽ vượt qua được.”
Mẹ đã đúng. Tôi dẹp bỏ máu đỏ đen ngay. Không chỉ thế, tôi xé nát hình ảnh bài bạc trong đầu, không còn chút ham muốn nào. Kể từ thời điểm đó, tôi không còn thiết tha với bất kỳ hình thức cờ bạc nào nữa.
Một lần khác, tôi hút thuốc quá nhiều, có nguy cơ hủy hoại sức khỏe. Sau đó, ý chí của tôi khẳng định sức mạnh. Tôi không chỉ dừng hút mà còn triệt tiêu luôn cả cảm giác thèm hút. Trước đó, tôi có vấn đề về tim, rồi phát hiện ra là do thói quen uống cà phê vô tội vạ mỗi buổi sáng. Tôi ngừng uống ngay, mặc dù tôi thừa nhận đó không phải là một việc dễ dàng. Bằng cách này, tôi kiểm soát được các thói quen và đam mê khác. Nhờ đó, tôi không chỉ bảo vệ đời mình mà còn có được sự sảng khoái vô biên với lối sống mà người khác xem là thiếu thốn, kiêng khem.
Trải qua thời niên thiếu, sau khi hoàn thành khóa học tại trường Bách khoa Kỹ thuật ở Graz*, tôi bị suy sụp thần kinh. Trong thời gian đối mặt với căn bệnh kéo dài, tôi bắt đầu quan sát thấy nhiều hiện tượng kỳ lạ và khó tin…

    Share:
    Back to Blog

    Related Posts

    View All Posts »
    Chapter 12: Reflections on the Cosmic Perspective

    Chapter 12: Reflections on the Cosmic Perspective

    Góc nhìn vũ trụ không làm bạn nhỏ bé - nó giải phóng bạn. Khi biết mình được tạo ra từ những ngôi sao, khi hiểu vũ trụ sống trong từng nguyên tử của mình, con người có thể thoát khỏi những định kiến hạn hẹp để nhìn nhận cuộc đời rộng lớn hơn.

    Take Me to Your Leader - Neil deGrasse Tyson

    Take Me to Your Leader - Neil deGrasse Tyson

    Tyson không hỏi "Người ngoài hành tinh có tồn tại không?" Ông hỏi điều khó hơn nhiều: nếu họ đến, vật lý học của chúng ta có thể nói gì về họ? Và điều gì sẽ xảy ra nếu ta bắt tay nhầm chỗ?

    Chapter 11: Exoplanet Earth

    Chapter 11: Exoplanet Earth

    Nếu người ngoài hành tinh nhìn về phía Trái Đất, họ sẽ thấy gì? Một đốm xanh mờ, những tín hiệu vô tuyến kỳ lạ, và các dấu vân tay hóa học trong khí quyển - tất cả đều tiết lộ một hành tinh đặc biệt, nhưng liệu có thể tiết lộ sự hiện diện của sự sống thông minh?

    Chapter 10: Between the Planets

    Chapter 10: Between the Planets

    Hệ mặt trời trông có vẻ trống rỗng khi nhìn từ xa. Nhưng không gian giữa các hành tinh chứa đầy đá tảng, sỏi, bóng băng, bụi, dòng hạt tích điện, từ trường khổng lồ - và hàng trăm tấn thiên thạch rơi xuống Trái Đất mỗi ngày.